Biến chứng nguy hiểm của bệnh tiểu đường

14 Feb 2017
Cotipa - Biến chứng của bệnh tiểu đường

Mục lục

1. Bệnh tiểu đường là gì?

2. Triệu chứng bệnh tiểu đường

3. Biến chứng bệnh tiểu đường

3.1. Biến chứng tiểu đường type 1

3.2. Biến chứng tiểu đường type 2

3.2.1. Biến chứng tiểu đường ở chân

3.2.2. Biến chứng tiểu đường mắt

3.2.3. Biến chứng tiểu đường gan

3.2.4. Biến chứng tiểu đường thận

3.2.5. Biến chứng tiểu đường phổi

3.2.6. Biến chứng tiểu đường mạch máu

3.2.7. Biến chứng tiểu đường thần kinh

3.2.8. Biến chứng não ở bệnh tiểu đường

3.2.9. Tăng huyết áp

3.3. Biến chứng tiểu đường thai kỳ

4. Phòng chống và ngăn ngừa biến chứng

1. Bệnh tiểu đường là gì?

Bệnh tiểu đường là gì?
Bệnh tiểu đường là gì?

Bệnh tiểu đường (còn gọi là bệnh đái tháo đường) – căn bệnh mãn tính được xem là “kẻ giết người thầm lặng” của thế kỷ 21. Do cơ thể thiếu hụt hoặc đề kháng insulin dẫn đến rối loạn đường chuyển hóa trong máu. Ngành y học đã chia bệnh tiểu đường ra làm ba loại chính đó là bệnh tiểu đường type 1, bệnh tiểu đường type 2 và bệnh tiểu đường thai kỳ.

Bệnh tiểu đường tuýp 1 – còn gọi là tiểu đường phụ thuộc insulin. Vì tế bào tuyến tụy bị phá hủy dẫn đến không sản xuất được insulin cho cơ thể. Bệnh nhân bị tiểu đường type 1 phải tiêm insulin suốt đời để duy trì sức khỏe. Thường xảy ra ở trẻ em ở độ tuổi vị thành niên dưới 30 tuổi và chiếm khoảng 5 – 10% người bệnh tiểu đường.

Khác với bệnh tiểu đường type 1 vì không thể tiết được insulin thì các tế bào của bệnh nhân type 2 không cung ứng đúng insulin hay sản xuất chưa đủ. Người mắc bệnh tiểu đường tuýp 2 chiếm tỷ lệ cao nhất khoảng 90% và thường xảy ra ở độ tuổi trên 30. Đa số bệnh nhân ở type này thường uống thuốc để điều trị, nếu đường huyết tăng quá cao cũng sẽ phải sử dụng insulin như bệnh tiểu đường type 1.

bệnh tiểu đường thai kỳ (tiểu đường type 3) là trường hợp ít gặp nhất. Vì bệnh chỉ xuất hiện khi các sản phụ đang mang thai và sẽ biến mất sau khi sinh con.

2. Triệu chứng bệnh tiểu đường

Không phải bệnh nhân nào cũng dễ dàng nhận ra mình đang mang bệnh tiểu đường. Đối với tiểu đường type 1 thường diễn ra trong thời gian ngắn và có triệu chứng bất ngờ, sẽ phải đưa đi cấp cứu nếu xảy ra. Đối với tiểu đường type 2 thì khó phát hiện hơn do các triệu chứng ban đầu chưa quá nghiêm trọng và có tiến triển trong thời gian dài.

Nhưng hầu như đa số bệnh tiểu đường đều có dấu hiệu giống nhau như: ăn nhiều, khát nhiều, tiểu nhiều và đói nhiều. Nếu gặp bốn chữ “nhiều” này hãy đi khám sức khỏe và đo lại đường huyết. Bệnh nhân tiểu đường nếu không chữa trị kịp thời và đúng cách để kiểm soát đường huyết tốt sẽ để lại các biến chứng khó chữa gây hủy hoại sức khỏe, tàn phế và nguy hiểm nhất là tử vong.

3. Biến chứng bệnh tiểu đường

Biến chứng tiểu đường type 2
Biến chứng của bệnh tiểu đường

Giống như ung thư hay HIV, bệnh tiểu đường cũng phát triển một cách thầm lặng và âm ỉ, nếu như bệnh đã có những dấu hiệu ra bên ngoài thì lúc đó dường như đã quá nặng.

Biến chứng là nỗi lo sợ của nhiều bệnh nhân tiểu đường trên thế giới. Vì nếu không được điều trị kịp thời, bệnh sẽ làm ảnh hưởng tới từng bộ phận trên cơ thể gây tàn phế, giảm chất lượng cuộc sống và có thể gây tử vong. Mỗi biến chứng đều có những nguy hiểm khác nhau, vậy làm sao có thể phân biệt được chúng?

3.1. Biến chứng tiểu đường type 1

Biến chứng bệnh tiểu đường type 1
Biến chứng bệnh tiểu đường type 1

Tiểu đường type 1 làm ảnh hưởng đến toàn bộ các cơ quan trong cơ thể. Tuy nhiên, sự tác động này sẽ được hạn chế nếu đường huyết của bệnh nhân được kiểm soát tốt. Ở type 1 thường mắc phải một số biến chứng nguy hiểm như hạ đường huyết, nhiễm cetone acid, rối loạn cương dương, mắt mờ, lở lét chân…tuy nhiên, tiểu đường type 1 chia biến chứng ra làm hai loại:

Biến chứng mãn tính là những biến chứng gây tàn phá các bộ phận trên cơ thể như tổn thương mắt (võng mạc) gây mù lòa, tổn thương thần kinh, lở loét bàn chân gây cắt cụt chi, biến chứng tim mạch và đặc biệt là THẬN.

Biến chứng thận giai đoạn cuối là nguyên nhân chủ yếu gây tử vong, trong khi bệnh nhân đái tháo đường type 2 thì bệnh ở các động mạch lớn gây nhồi máu cơ tim và đột quỵ dễ gây tử vong. Vì hệ thống ở thận lọc chất thải ra khỏi máu bị hư. Ở type 1, có đến 40% bệnh nhân xuất hiện bệnh thận giai đoạn cuối so với 20% bệnh nhân tiểu đường ở type 2.

Bệnh lý mạch máu lớn và tổn thương mạch máu nhỏ: tổn thương mạch vành – mạch máu dễ gây nhồi máu cơ tim, đột quỵ, võng mạc yếu dễ gây mù lòa, tổn thương các dây thần kinh cảm giác, vận động và tự chủ… gây bất lực tình dục (rối loạn tình dục), là cơ địa thuận lợi cho bệnh nhiễm trùng phát triển.

3.2. Biến chứng tiểu đường type 2

Khác với bệnh tiểu đường type 1, bệnh nhân ở type 2 điều trị bệnh bằng các loại thuốc men, thảo dược,… khi đang ở giai đoạn đầu. Ở giai đoạn bệnh nhân phải tiêm bằng insulin vì sự hiệu quả của thuốc men không giúp kiểm soát tốt đường huyết, đồng nghĩa với việc đường huyết tăng quá cao dẫn đến các biến chứng xuất hiện.

3.2.1. Biến chứng tiểu đường ở chân

Biến chứng tiểu đường ở chân
Biến chứng tiểu đường ở chân

Ở bệnh nhân tiểu đường gặp biến chứng ở chân thường là các vết lở loét dưới bàn chân hay gót chân, giữa các ngón chân. Sẽ phát triển nhanh và loang ra nếu bệnh nhân không chăm sóc vết thương và kiểm soát đường huyết tốt.

Khác với người bình thường, vết thương của người bệnh nhân tiểu đường rất khó lành vì ở bàn chân ít được cung cấp đủ máu, do đó vùng tổn thương không đủ chất dinh dưỡng và ôxy. Khi vết thương bị hở, các virus dễ dàng xâm nhập vào và đó là một lợi ích để bệnh phát triển khó chữa hơn.

Người bị biến chứng ở chân thường bị giảm khả năng cảm nhận đau, nóng lạnh do gặp biến chứng ở thần kinh. Đồng nghĩa với việc bệnh nhân không thể cảm nhận chân đã bị thương để có thể điều trị kịp thời. Nếu như các vết loét loang ra quá nhanh dẫn đến phải cắt cụt chi để không ảnh hưởng đến các bộ phận khác.

Ở biến chứng này, bệnh nhân đang bị tiểu đường giai đoạn tiêm insulin không nên để chân bị thương vì rất khó lành, không mang giày quá chật, nên chăm sóc chân thường xuyên để điều trị kịp thời và đi khám sức khỏe thường xuyên.

3.2.2. Biến chứng tiểu đường mắt

Hiện tượng các mạch máu ở mô nhạy sáng phía sau mắt bị thiệt hại làm tầm nhìn ở mắt bị mờ đi. Đường máu cao gây tổn thương, phá hủy các mao mạch ở đáy mắt, ảnh hưởng đến dịch từ trong lòng mạch thoát ra gây xuất huyết và phù nề. Nếu gây phù ở hoàng điểm thì có thể làm giảm thị lực rất nhiều. Bản thân các mao mạch bị phá hủy và bị tắc gây thiếu máu ở võng mạc, khi đó cơ thể sẽ có phản ứng sinh ra một số yếu tố kích thích sự hình thành các mao mạch mới phát triển mạnh cả vào hậu phòng (khoang chứa dịch kính).

Biến chứng tiểu đường mắt
Biến chứng tiểu đường mắt

Các mạch máu mới này rất dễ vỡ và thường gây xuất huyết nặng từ giai đoạn sớm làm đục dịch kính. Các mạch máu mới cũng gây ra các vết sẹo xơ ở võng mạc và trong quá trình liền sẹo nó có thể co rút gây ra bong võng mạc làm mất thị lực vĩnh viễn. Hậu quả của phù hoàng điểm, đục dịch kính, bong võng mạc… là mắt bị giảm hoặc mất khả năng thu nhận các tín hiệu ánh sáng, biểu hiện lâm sàng là giảm thị lực hoặc mất thị lực hoàn toàn.

Biến chứng tiểu đường được chia làm hai giai đoạn tùy vào mức độ tổn thương của biến chứng:

  • Giai đoạn bệnh võng mạc tiểu đường sớm không tăng sinh là loại phổ biến nhất của bệnh võng mạc. Nó có thể được mô tả là nhẹ, trung bình hoạc nặng. Khi bị bệnh, các bức thành của các mạch máu ở võng mạc suy yếu. Chỗ phình ra từ các thành mạch, dôi khi bị rò rỉ hoặc chảy dich và máu vào võng mạc. Dễ bị phù nề điểm vàng.
  • Giai đoạn tiểu đường tăng sinh là loại nặng nhất của bệnh võng mạc tiểu đường. Khi bị tiểu đường tăng sinh, các mạch máu bất thường phát triển trong võng mạc. Đôi khi các mạch máu mới phát triển hoặc bị rò rỉ chất jelly, trung tâm của mắt có chất trong như pha lê. Cuối cùng, mô sẹo kích thích bởi sự tăng trưởng của các mạch máu mới. Nếu các mạch máu mới can thiệp với dòng chảy bình thường của dịch ra ngoài mắt, áp lực có thể tăng trong nhãn cầu, gây tăng nhãn áp.

Vì biến chứng tiểu đường ở mắt có thể gây mù lòa cũng là một trong những điểm yếu của bệnh nhân tiểu đường. Khi thị lực không còn, bệnh nhân dễ bị va chạm tạo ra hàng loạt các biến chứng khác ngoài da và lở loét chân. Vì vậy cần bảo vệ đôi mắt bằng cách đi khám sức khỏe và hạn chế màn ảnh vô tuyến.

3.2.3. Biến chứng tiểu đường gan

Người bị bệnh tiểu đường có xơ gan thì thời gian sống trung bình ngắn hơn bệnh nhân xơ gan không đái tháo đường. Vì vậy bệnh nhân đa số tử vong chủ yếu vì những biến chứng của bệnh xơ gan như xuất huyết tiêu hóa hơn là chết do biến chứng của đái tháo đường. Sự xuất hiện của tăng đường huyết làm mức độ suy gan nặng thêm, nguy cơ nhiễm trùng (nguyên nhân tử vong thường gặp trên người xơ gan) gia tăng.

Nhiều bệnh nhân xơ gan ăn uống kém có thể bị suy dinh dưỡng, dẫn đến đạm máu thấp gây khó khăn cho điều trị và ảnh hưởng đến tiên lượng bệnh xơ gan. Thuốc hạ đường huyết uống đều có thể ảnh hưởng (nhẹ) đến gan. Đối với người bệnh xơ gan, mà chức năng gan đã suy giảm, chỉ cần một tác động nhẹ có hại cho gan cũng có thể trở thành nguy hiểm.

Ngược lại rối loạn chức năng gan thường dẫn đến đáp ứng quá mức đối với liều điều trị thông thường, làm tăng nguy cơ tác dụng phụ đối với những thuốc chuyển hóa qua gan. Do đó với người xơ gan, bác sĩ thường dùng insulin để ổn định đường huyết – khi ấy nguy cơ hạ đường huyết phải luôn được lưu ý; vì bệnh nhân xơ gan luôn bị giảm dự trữ đường và đáp ứng kém với glucagon – một hormon làm tăng đường huyết (được phóng thích khi bị hạ đường huyết).

Những bệnh nhân đang chờ đợi ghép gan và người còn hy vọng sống nhiều năm sẽ giảm được nguy cơ nhiễm trùng nếu như bệnh đái tháo đường được điều trị tốt.

3.2.4. Biến chứng tiểu đường thận

Bệnh tiểu đường thường dẫn đến biến chứng suy thận mà nhiều bệnh nhân đã mắc phải – là một trong những biến chứng nặng nề nhất đối với người bệnh tiểu đường do nguy cơ dẫn đến tàn phế và tử vong do suy thận, nhất là trường hợp không có khả năng lọc máu và ghép thận. Không những vậy, biến chứng thận gây ảnh hưởng đến rất xấu đến các biến chứng mãn tính khác như bệnh lý máu lớn, võng mạc mắt.

Theo nghiên cứu, quá trình tiến triển tự nhiên của bệnh thận do bệnh tiểu đường là Microalbumin niệu – Protein niệu – SUY THẬN. Ngày nay, tỷ lệ người mắc biến chứng thận ngày càng cao, bệnh nhân ở type1 thường bị nặng hơn ở bệnh nhân type 2. Để hạn chế được sự tổn thương ở thận, cần phải phối hợp điều trị cả đường huyết và các yếu tố nguy cơ và tăng huyết áp, hạn chế đạm và muối khi bị suy thận.

Bệnh nhân bị suy thận hay có những dấu hiệu bất thường như: đau lưng, màu sắc nước tiểu bị đổi (nước tiểu có màu vàng nhạt, nếu uống nhiều có màu vàng đậm và thay đổi thành màu đục vào buổi sáng), da có màu trắng nhạt sưng phù toàn thân. Ngoài ra, bệnh nhân hay chán ăn, buồn nôn, mệt mỏi và sốt… Nhưng nếu có triệu chứng đau lưng kèm nước tiểu đục thì nên đi khám bệnh vì gần như chắc chắc bệnh nhân đang bị thận.

3.2.5. Biến chứng tiểu đường phổi

Nguyên nhân của bệnh biến chứng phổi có thể xảy ra khi người bệnh tiếp xúc với người bị viêm phổi do vi khuẩn, với cơ thể không khỏe mạnh sẽ không lại được đặc biệt là bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường. Hoặc bị tạp chất xâm nhập từ quá trình điều trị bệnh như nôn mửa, sặc nước hay cháo khi đang ăn khiến những tạp chất vào phổi và gây viêm phổi. Ngoài ra do virus cúm và nhiễm vi khuẩn cơ hội do hệ thống miễn dịch suy yếu nên nhiễm bệnh.

Các triệu chứng thường gặp ở người mắc bệnh tiểu đường mang biến chứng phổi thường ra nhiều mồ hôi lạnh, thở khò khè, đau ngực và đau bựng, nhiều lúc bệnh nhân thường ho ra đờm, máu (bệnh đã nặng). Nếu không điều trị kịp thời bệnh thường hay kéo theo các triệu chứng khác như nhiễm khuẩn máu, tràn dịch phổi, áp xe phổi (hình thành khoang chứa mủ) và hội chứng hô hấp cấp.

3.2.6. Biến chứng tiểu đường mạch máu

Các mạch máu nhỏ bao gồm các mạch máu nuôi dưỡng mắt, thận, thần kinh… Ở mắt, các mạch máu nếu bị tổn thương dễ gây sốt huyết trên bề mặt bõng mạc (giảm thị ựa và mù lòa). Ở thận, nếu đường huyết tăng cao khiến thận phải lọc liên tục và làm việc quá sức. Hệ thống lọc của thận sẽ bị phá hủy, các lỗ lọc bắt đầu trở nên to hơn dẫn đến nhiều protein bị lọt ra ngoài, dần dần thận bị tổn thương và suy thận.

Các mạch máu lớn khiến người bệnh tiểu đường dễ có nguy cơ tai biến mạch máu não và nhồi máu cơ tim. Do tổn thường mạch máu lớn làm hoạt hóa quá trình viêm, chính điều này làm cho quá trình xơ vữa ở người BTĐ diễn ra nhanh hơn người thường. Khi mạch máu bị tổn thương cũng là cơ hội để những cục huyết khối hình thành trong lòng động mạch hay các mảng xơ vữa làm bít tắc lòng động mạch là nguyên nhân làm cho máu không đến nuôi dưỡng được vùng mạch máu đó cung cấp.

Đây chính là lý do dẫn đến tắc mạch máu não, phình vỡ mạch máu não; gây nhồi máu cơ tim hoặc gây ra triệu chứng đau thắt ngực do thiếu máu cơ tim. Những tổn thương này còn làm mạch máu nuôi dưỡng chi dưới bị teo hẹp lại, khiến người bệnh tiểu đường dễ bị nhiễm trùng, hoại tử chi, dẫn đến cắt đoạn chi.

Chính vì vật mà tổn thương mạch máu là nguồn gốc của mọi sự hủy hoại trong bệnh đái tháo đường, bởi vậy để giảm thiểu được các biến chứng của bệnh, cần phải đạt được cả hai mục tiêu không thể tách rời đó là: ổn định đường huyết và bảo vệ mạch máu.

3.2.7. Biến chứng tiểu đường thần kinh

Biến chứng tiểu đường thần kinh
Biến chứng tiểu đường thần kinh

Biến chứng thần kinh ngoại vi là một trong những biến chứng nguy hiểm nhất của người bệnh đái tháo đường.
Nguyên nhân chính dẫn đến biến chứng ở thần kinh ngoại biên là do người bệnh kiểm soát đường huyết không tốt, có thể là do thời gian mắc bệnh đã quá lâu. Một nguyên nhân khác là do tuổi tác và người bệnh có tiền sử về tim mạch, huyết áp cao, thừa cân và bị rối loạn mỡ máu.

Hai bàn chân có cảm giác đau, nóng rát. Cảm giác đau càng tăng nặng khi về đêm, người bệnh vì quá đau nên có thể không ngủ được. Những cơn đau có thể xuất hiện những đợt ngắn hoặc dài và không thể giảm đau khi đã uống thuốc. Một số biến chứng nặng hơn khi khớp xương cổ và bàn chân bị biến dạng. Mất cảm giác cục bộ hoặc toàn thân, người bệnh không nhận được cảm giác đau và tổn thương khi chân dẫm phải một số vật sắc nhọn.

Biến chứng thần kinh ngoại biên có thể gây ra một số hậu quả nghiêm trọng như co cơ, cứng khớp, mất cảm giác nhận biết ở chân, một số vết thương nếu không điều trị kịp thời người bệnh có thể dẫn đến nhiễm trùng, cắt cụt chi và hoại tử.

3.2.8. Biến chứng não ở bệnh tiểu đường (tai biến mạch máu não)

Biến chứng tai biến mạch máu não trong bệnh tiểu đường do đường huyết tăng cao gây xơ vữa mạch, gây cứng và hẹp lòng mạch máu. Đối với bệnh nhân bị bệnh tiểu đường, nguy cơ bị bệnh tim mạch và tai biến tăng gấp 2 lần so với người thường. Bệnh tiểu đường làm mất tác dụng bảo vệ tim mạch của hormone trên phụ nữ chưa mãn kinh.

Những nguyên nhân gây ra bệnh tim mạch dẫn đến dễ đột quỵ ở người bệnh tiểu đường như:

  • Béo phì vụng bụng
  • Có cholesterol cao hơn bình thường
  • Bị tăng huyết áp
  • Thói quen hút thuốc lá

Ở bệnh nhân tiểu đường đã từng bị nhồi máu cơ tim sẽ có nguy cơ cao bị lần 2. Cơn đau tim trên bệnh nhân tiểu đường thường trầm trọng và dễ tử vong vì đường huyết tăng cao theo thời gian sẽ gây xơ vữa mạch máu.

3.2.9. Tăng huyết áp

Tăng huyết áp và bệnh tiểu đường là hai căn bệnh hoàn toàn khác nhau có mối liên quan và ngà càng phổ biến khi các nhà nghiên cứu chứng minh rằng hai bệnh này thường kết hợp với nhau và tỷ lệ người tăng huyết áp ở người đái tháo đường gấp hai lần người bình thường.

Hai căn bệnh này đều là yếu tố nguy cơ của bệnh lý mạch máu: tăng huyết áp, tuổi tác, stress, thừa cân hoặc béo phì…càng nhiều yếu tố thì mức độ nguy hiểm càng cao.

Tăng huyết áp và đái tháo đường là hai bệnh có sự tương tác qua lại với nhau, tăng huyết áp cũng là một yếu tố làm tăng mức độ bệnh của bệnh tiểu đường và ngược lại. Dù đang bệnh ở type 1 hay type 2 thì tăng huyết áp đều làm cho tiên lượng bệnh xấu đi rõ rệt, tỷ lệ bệnh mạch vành và đôt quỵ tăng nhanh gấp 2 -3 lần so với với người thường.

Ngoài ra, bệnh làm gia tăng nguy cơ mắc các bệnh mạch máu như: tai biến mạch máu não, tắc mạch chi, bệnh võng mạc, bệnh thận, bệnh lý thần kinh. Vì vậy làm giảm huyết áp sẽ giúp giảm đi các nguy cơ nêu trên và cũng là mục tiêu quan trọng đối với bệnh nhân tiểu đường, điều trị huyết áp là yếu tố quan trọng nhất làm châm tiến triển bệnh thần kinh do bệnh tiểu đường, chiếm khoảng 40% bệnh nhân tiểu đường.

Đa số bệnh nhân thường có những triệu chứng lâm sàng và một số triệu chứng khác như nhức đầu, nhìn mờ, chóng mặt, buồn nôn, đau bụng hoặc khó thở . Chính vì các triệu chứng không rõ ràng như vậy nên cần phải đi kiểm tra huyết áp định kỳ mỗi khi khám bệnh để kịp thời phát hiện và điều trị vì phần lớn đa số bệnh nhân đều phát hiện và điều trị muộn.

3.3. Biến chứng ở bệnh tiểu đường thai kỳ

Biến chứng tiểu đường thai kỳ
Biến chứng tiểu đường thai kỳ

Trước khi sử dụng liệu pháp insulin, các biến chứng của bệnh tiểu đường cho cả mẹ và thai nhi rất cao. Mặc dù hiện nay việc điều trị bằng insulin giúp bệnh tiểu đường giảm được nguy cơ biến chứng nhưng vẫn còn nguy cơ gia tăng của các yếu tố bất lọi khác: tiền sản giật, bệnh thận, bệnh võng mạc tăng lên. Nguy cơ phải mổ lấy thai và xuất huyết sau khi sinh.

Ngoài ra, mẹ đang mang thai cũng có thể gây biến chứng cho thai: sẩy thai, thai chết lưu không rõ nguyên nhân, tử vong chu sinh vào khoảng 2 – 5%, thai bị dị tật bẩm sinh có thể chiếm tới 50% gây ra tử vong chu sinh; bất thường sự tăng trưởng thai nhi trong tử cung; biến chứng ở trẻ sơ sinh, bao gồm hội chứng suy hô hấp, hạ đường huyết, hạ canxi máu, chứng tăng hồng cầu và tăng bilirubine máu.

Nếu không kiểm soát, lượng đường thừa trong máu sẽ làm thai nhi phát triển khá to. Do phải tương thích với lượng đường tăng qua nhau thai đến nguồn cung cấp máu, thai nhi sẽ tăng tiết lượng insulin để tiêu thụ lượng đường này và dự trữ năng lượng dưới lớp mỡ của thai nhi. Con của các bà mẹ bị bệnh ĐTĐ có thể nặng 4kg hoặc hơn nữa khi sinh. Vì vậy khi bé mới sinh mà có cân quá nặng, bác sĩ sẽ nghi ngờ người mẹ mắc ĐTĐ thai kỳ ngay cả khi đã được chẩn đoán là không có bệnh trước khi sinh.

Vì vậy phụ nữ mang thai bị bệnh tiểu đường thai kỳ cần được giám sát trong suốt quá trình mang thai và sinh đẻ.

4. Phòng chống và ngăn ngừa biến chứng

Chế độ sinh hoạt quan trọng với người bệnh tiểu đường
Chế độ sinh hoạt quan trọng với người bệnh tiểu đường

Để phòng chống và ngăn ngừa để bệnh tiểu đường không trở thành các biến chứng khó chữa. Bệnh nhân luôn nhớ kiểm soát tốt chỉ số đường huyết của mình, đừng để đường huyết lên quá cao hay hạ quá thấp sẽ khiến cơ thể mệt mỏi.

Quản lý căng thẳng: căng thẳng có thể làm thay đổi lượng đường trong máu. Người bị căng thẳng nghiêm trọng có xu hướng không tự chăm sóc được bản thân tốt có thể do nản chí hay thất vọng bệnh tật tự phát sinh thói quen uống rượu và có chế độ ăn uống không lành mạnh và bỏ qua việc tập thể dục khiến sức khỏe ngày càng tệ đi. Thứ hai, việc quản lý căng thẳng cũng có thể trực tiếp làm thay đổi lượng đường huyết trong máu.

Tập thể dục: không chỉ giúp bệnh nhân có sức khỏe tốt, mà còn có tác dụng giúp cơ thể sử dụng insulin tốt hơn trong việc trao đổi glucoso thành năng lượng cho các tế bào. Nếu cơ xương chắc khỏe sẽ giúp lượng đường trong máu được sử dụng hiệu quả. Khi cơ bắp được rèn luyện, nó đẩy lượng đường ra khỏi máu và giúp quản lý lượng đường trong máu tốt hơn.

Chăm sóc chân, răng miệng, mắt cẩn thận: thường xuyên theo dõi chỉ số đường huyết bên trong lẫn các yếu tố bên ngoài. Vì bệnh nhân có thể dựa vào các vết thương trên cơ thể, sự thay đổi màu da hay đơn giản là tầm nhìn của mắt để chẩn đoán được tình trạng hiện tại của bệnh.

Thường xuyên đi khám sức khỏe: để luôn đề phòng được các biến chứng đang xảy ra, bệnh nhân nên đi khám sức khỏe đều đặn theo định kỳ để bác sĩ có thể điều trị kịp thời các biến chứng đang phát triển thành nguy hiểm.

Sử dụng thảo dược: Để có một sức khỏe tốt, tất cả bệnh nhân tiểu đường cần lập một chế độ sinh hoạt hợp lý, ăn uống lành mạnh – tập luyện cơ thể đều đặn – kết hợp với các loại thảo dược thiên nhiên. Vì các loại thảo dược giúp bệnh nhân đang điều trị tiểu đường ổn định được đường huyết trong thời gian ngắn với hiệu quả cao, ngăn ngừa tốt các biến chứng và giảm được liều lượng sử dụng sau một thời gian mà không cần phải nhờ đến tiêm insulin.

BÀI VIẾT LIÊN QUAN